Quy trình phân tích Aflatoxin B1 trong thức ăn chăn nuôi theo TCVN 9126:2011 (ISO 17375:2006) sử dụng kỹ thuật sắc ký lỏng pha đảo (RP-HPLC) kết hợp làm sạch bằng cột miễn dịch (IAC) và dẫn xuất hóa sau cột bằng phương pháp brom hóa. Phương pháp này áp dụng hiệu quả cho các nền mẫu có hàm lượng chất béo lên đến 50%, đạt giới hạn định lượng (LOQ) dưới 0.5 µg/kg tùy thuộc vào cấu hình hệ thống thực tế của phòng thử nghiệm.
1. Chỉ Tiêu Aflatoxin B1 Và Nguyên Lý Sắc Ký Lỏng Pha Đảo (RP-HPLC) Theo TCVN 9126:2011 / ISO 17375:2006
Tại Việt Nam, chỉ tiêu an toàn này được kiểm soát nghiêm ngặt theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 01-190:2020/BNNPTNT về Thức ăn chăn nuôi.

1.1 Độc tính của Aflatoxin B1 và yêu cầu kiểm soát kỹ thuật nghiêm ngặt
Aflatoxin B1 (công thức hóa học: C₁₇H₁₂O₆, khối lượng phân tử: 312.27 g/mol) là độc tố nấm mốc (mycotoxin) sinh ra chủ yếu từ hoạt động trao đổi chất của các chủng nấm Aspergillus flavus và Aspergillus parasiticus. Theo đánh giá từ Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế (IARC) trực thuộc WHO, độc tố này là tác nhân gây ung thư gan mạnh thuộc Nhóm 1 (genotoxic carcinogenic). Ủy ban Chuyên gia Hỗn hợp về Phụ gia Thực phẩm của FAO/WHO (JECFA) và Cơ quan An toàn Thực phẩm Châu Âu (EFSA) đều khẳng định Aflatoxin B1 sở hữu độc tính tích lũy nguy hiểm nhất trong nhóm aflatoxin.
Trong ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi và chế biến nông sản, độc tố này có khả năng bền nhiệt rất cao (nhiệt độ phân hủy lên tới 269 °C), không bị phá hủy hoàn toàn trong các công đoạn ép đùn hay sấy nhiệt thông thường.
Tại Việt Nam, hàm lượng độc tố này được kiểm soát nghiêm ngặt theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 01-190:2020/BNNPTNT về Thức ăn chăn nuôi. Theo quy chuẩn này, giới hạn tối đa cho phép (Maximum Residue Limits - MRL) của Aflatoxin B1 thay đổi linh hoạt theo từng nhóm nguyên liệu và loại thức ăn chăn nuôi:
-
Đối với thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh và thức ăn đậm đặc cho các đối tượng vật nuôi phổ biến, giới hạn tối đa được quy định ở mức 20 µg/kg.
-
Nhiều nhóm nguyên liệu và thức ăn truyền thống có mức quy định là 30 µg/kg.
-
Riêng đối với ngô, các sản phẩm chế biến từ ngô và khô dầu lạc, giới hạn tối đa cho phép có thể đạt mức 50 µg/kg.
Để định lượng chính xác độc tố này ở nồng độ vết (ppb), việc sử dụng các phép thử sàng lọc định tính như ELISA thường gặp sai số dương tính giả do hiện tượng nhiễu nền từ các mẫu thức ăn chăn nuôi giàu protein và chất béo. Do đó, phương pháp HPLC sử dụng cột miễn dịch được xem là công cụ chuẩn mực để có kết quả chính xác cao, phục vụ công tác kiểm tra chất lượng và pháp lý.
1.2 Nguyên lý vận hành của phương pháp RP-HPLC kết hợp cột miễn dịch (IAC) và dẫn xuất sau cột
TCVN 9126:2011 (hoàn toàn tương đương với tiêu chuẩn quốc tế ISO 17375:2006) quy định phương pháp xác định hàm lượng Aflatoxin B1 bằng sắc ký lỏng hiệu năng cao pha đảo (RP-HPLC) kết hợp detector phát hiện huỳnh quang (FLD). Quy trình kỹ thuật trải qua ba giai đoạn chính:
-
Chiết xuất nền mẫu: Sử dụng hỗn hợp dung môi hữu cơ Acetone và nước để giải phóng độc tố khỏi liên kết vật lý với protein và tinh bột trong ma trận mẫu. Dung môi chiết xuất này đảm bảo hiệu suất thu hồi cao đối với cả mẫu chứa lượng chất béo lên tới 50%.
-
Làm sạch bằng cột liên kết miễn dịch (Immunoaffinity Column - IAC): Dịch chiết mẫu sau khi pha loãng bằng dung dịch đệm phosphat (PBS) được cho chảy qua cột IAC chứa các kháng thể đơn dòng đặc hiệu. Kháng thể sẽ chủ động bắt giữ Aflatoxin B1, trong khi các tạp chất hữu cơ, chất béo và sắc tố bị rửa trôi hoàn toàn bằng nước. Độc tố sau đó được giải hấp (rửa giải) khỏi cột bằng dung môi hữu cơ phân cực mạnh như Methanol hoặc Acetonitrile tinh khiết sắc ký.
-
Dẫn xuất hóa sau cột và phát hiện huỳnh quang: Cấu trúc vòng furan của Aflatoxin B1 tự nhiên cho khả năng phát xạ huỳnh quang khá yếu trong các hệ pha động phân cực. Để tăng độ nhạy phát hiện, dòng chảy sau khi ra khỏi cột phân tách sắc ký được dẫn qua hệ thống dẫn xuất hóa sau cột bằng phương pháp brom hóa hóa học (sử dụng thuốc thử Pyridinium hydrobromide perbromide - PBPB) hoặc dẫn xuất hóa điện hóa. Quá trình brom hóa tại vị trí liên kết đôi 8,9 của vòng furan tạo ra dẫn xuất phân tử mới bền vững, giúp tăng cường độ nhạy phát xạ huỳnh quang lên từ 10 đến 50 lần khi đo ở bước sóng kích thích (Ex) 360 nm và bước sóng phát xạ (Em) 440 nm.
2. Chi Tiết Nhóm Hóa Chất, Dung Môi Và Thuốc Thử Khuyên Dùng Trong Quy Trình
2.1 Dung môi chiết mẫu và dung môi sắc ký (HPLC Grade)
Độ nhạy và độ ổn định của detector huỳnh quang phụ thuộc trực tiếp vào độ tinh khiết của hệ dung môi sử dụng. Các tạp chất hữu cơ dạng vết có trong dung môi kém chất lượng có thể tự phát quang hoặc gây dập tắt huỳnh quang (quenching), làm tăng nhiễu đường nền và xuất hiện các peak lạ (ghost peak) trên sắc ký đồ.
-
Acetone và Nước siêu tinh khiết cho chiết xuất: Hỗn hợp Acetone/Nước tỉ lệ 85:15 v/v được dùng để chiết mẫu. Nước sử dụng trong suốt quy trình bắt buộc phải đạt tiêu chuẩn Nước loại 1 theo ISO 3696, với điện trở kháng lớn hơn hoặc bằng 18.2 MOhm·cm để tránh đưa ion kim loại nặng vào làm hỏng cấu trúc kháng thể của cột IAC.
-
Methanol HPLC Grade và Acetonitrile HPLC Grade: Dung môi rửa giải từ cột IAC yêu cầu sử dụng Methanol tinh khiết sắc ký để giải hấp hoàn toàn độc tố mà không làm hỏng pha tĩnh của cột sắc ký tiếp theo. Pha động chuẩn bị theo TCVN 9126/ISO 17375 (ví dụ hỗn hợp Nước/Acetonitrile/Methanol) hoặc điều chỉnh tỷ lệ thích hợp để tối ưu hóa khả năng tách peak tùy theo đặc tính của cột sắc ký sử dụng và điều kiện đã được thẩm định trên hệ thống HPLC của phòng thử nghiệm. Dung môi sắc ký phải đạt độ truyền quang UV trên 90% tại bước sóng 200 nm và hàm lượng nước tự do dưới 0.02% nhằm duy trì áp suất hệ thống ổn định dưới 400 bar.
2.2 Hệ dung dịch đệm photphat (PBS) và hóa chất điều chỉnh pH
Kháng thể đơn dòng được cố định trên giá thể của cột miễn dịch IAC hoạt động tối ưu trong môi trường pH được kiểm soát nghiêm ngặt.
-
Thành phần đệm PBS tiêu chuẩn: Chứa Sodium Chloride (NaCl 8.0 g/L), Potassium Chloride (KCl 0.2 g/L), Potassium Dihydrogen Phosphate (KH₂PO₄ 0.2 g/L) và Disodium Hydrogen Phosphate (Na₂HPO₄ 1.15 g/L).
-
Duy trì pH: Dung dịch PBS sau khi chuẩn bị phải được kiểm tra và hiệu chỉnh về mức pH lý tưởng là 7.4 ± 0.1 bằng dung dịch HCl 0.1 mol/L hoặc NaOH 0.1 mol/L. Nếu pH lệch ra ngoài khoảng 7.2 - 7.6, cấu trúc không gian của protein kháng thể trên cột IAC có nguy cơ bị biến tính không đảo ngược, làm sụt giảm hiệu suất bắt cặp của kháng thể đơn dòng trên cột, gây sai lệch kết quả và làm giảm độ thu hồi một cách nghiêm trọng.
2.3 Thuốc thử dẫn xuất hóa sau cột (Post-Column Derivatization Reagents)
Dẫn xuất hóa sau cột bằng phương pháp brom hóa hóa học sử dụng Pyridinium hydrobromide perbromide (PBPB) là kỹ thuật phổ biến được áp dụng rộng rãi.
-
Cơ chế hoạt động: Dung dịch thuốc thử PBPB được liên tục bơm vào dòng giải hấp sau khi ra khỏi cột phân tách thông qua khớp nối chữ T (T-piece) với tốc độ dòng ổn định (thường là 0.2 - 0.3 mL/phút). Phản ứng brom hóa diễn ra nhanh chóng giúp chuyển hóa Aflatoxin B1 thành dẫn xuất phân tử có khả năng phát xạ huỳnh quang mạnh.
-
Độ bền thuốc thử: Theo TCVN 9126, thuốc thử PBPB được chuẩn bị trong nước và bảo quản trong chai tối màu có thể bền vững từ 3 đến 4 ngày. Tuy nhiên, để đảm bảo tính ổn định tối đa của đường nền và tránh hiện tượng suy giảm nồng độ brom tự do do tác động của ánh sáng xung quanh, việc chuẩn bị mới thuốc thử hàng ngày hoặc sử dụng trong vòng 24 giờ là thực hành quản lý chất lượng thận trọng được khuyến nghị tại các phòng thử nghiệm chuẩn hóa.
2.4 Chất chuẩn phân tích Aflatoxin B1 (Certified Reference Materials - CRM)
Để thiết lập đường chuẩn chính xác từ nồng độ vết (thường từ 0.1 µg/kg đến 10 µg/kg), phòng thử nghiệm cần sử dụng chất chuẩn có chứng chỉ (CRM) rõ ràng, chứng minh được tính liên kết chuẩn đo lường (traceability) và độ không đảm bảo đo phù hợp với mục đích sử dụng.
-
Bảo quản chất chuẩn gốc: Dung dịch chuẩn gốc Aflatoxin B1 thường được hòa tan trong Acetonitrile với nồng độ xác định. Do độc tố nấm mốc này cực kỳ nhạy cảm với bức xạ UV và dễ bị hấp phụ vật lý lên bề mặt thủy tinh thông thường có tính kiềm, các dung dịch chuẩn làm việc phải được chuẩn bị trong bình định mức thủy tinh Borosilicate 3.3 trung tính (đạt tiêu chuẩn ISO 3585) và bảo quản ở nhiệt độ âm 20 °C trong bóng tối để đảm bảo độ bền tối đa.
3. Ma Trận Đối Chiếu Và Lựa Chọn Hóa Chất Phân Tích (Comparison Matrix)
Bảng dưới đây so sánh các phân khúc hóa chất và dung môi sử dụng trong quy trình định lượng Aflatoxin B1 bằng HPLC nhằm giúp các quản lý phòng thí nghiệm tối ưu hóa giữa hiệu năng và chi phí vận hành:
|
Tiêu chí kỹ thuật |
Dung môi HPLC cao cấp VWR (Avantor) |
Dung môi phân tích Rankem (Avantor) |
Hóa chất cơ bản phổ thông (Thông dụng) |
|---|---|---|---|
|
Độ tinh khiết chi tiết |
Tối thiểu 99.99% (Chromatography grade) |
Tối thiểu 99.8% (Analytical Reagent grade) |
98.0% - 99.0% (Laboratory grade) |
|
Hàm lượng nước tự do |
Dưới 0.01% |
Dưới 0.05% |
Trên 0.1% |
|
Độ truyền quang UV tại 200 nm |
Trên 95% |
Trên 85% |
Không xác định rõ (Thường bị đục) |
|
Nhiễu đường nền (Baseline Noise) |
Cực thấp (< 2 µV), không xuất hiện peak ma (ghost peak) |
Thấp (< 10 µV), ổn định ở nồng độ ppb |
Cao, xuất hiện nhiều peak nhiễu trùng thời gian lưu |
|
Ứng dụng tối ưu trong quy trình |
Pha động HPLC, dung dịch rửa giải từ cột IAC |
Chiết xuất mẫu ban đầu, rửa thiết bị, rửa pha tĩnh |
Vệ sinh tủ hút, xử lý rác thải dung môi |
|
Khả năng tối ưu ngân sách |
Phù hợp cho kiểm nghiệm phân tích vết, đạt chuẩn ISO 17025 |
Tiết kiệm 30% - 40% chi phí chuẩn bị mẫu |
Rủi ro cao gây hỏng cột sắc ký và bẩn đầu dò FLD |
4. Hướng Dẫn Quy Trình Thao Tác Chuẩn (SOP) Và Khắc Phục Sự Cố (Troubleshooting)

4.1 Quy trình thao tác chuẩn (SOP) chuẩn bị đệm và làm sạch mẫu qua cột IAC
Lưu ý kỹ thuật: Quy trình dưới đây được thiết kế tham khảo dựa trên nguyên lý của tiêu chuẩn TCVN 9126:2011 và cần được phòng thử nghiệm thực hiện việc xác nhận giá trị sử dụng (method validation / method verification) cụ thể trên hệ thống sắc ký thực tế trước khi đưa vào áp dụng phân tích thường quy.
-
Chuẩn bị đệm PBS pH 7.4: Hòa tan lần lượt 8.0 g NaCl, 0.2 g KCl, 1.15 g Na₂HPO₄ và 0.2 g KH₂PO₄ vào 950 mL nước siêu tinh khiết. Khuấy đều bằng máy khuấy từ trong bình định mức thủy tinh Borosilicate 3.3. Sử dụng máy đo pH đã được hiệu chuẩn bằng các dung dịch đệm chuẩn (pH 4.01, 7.00 và 10.01), nhỏ từ từ từng giọt dung dịch HCl 0.1 mol/L hoặc NaOH 0.1 mol/L để đưa pH về đúng trị số 7.4 ± 0.1. Thêm nước cho đủ 1000 mL và lọc qua màng lọc vi lọc Nylon 0.22 µm.
-
Chiết xuất và Pha loãng: Cân chính xác 25.0 g mẫu thức ăn chăn nuôi đã được nghiền mịn qua rây lỗ kích thước nhỏ hơn 1 mm. Thêm vào 100 mL hỗn hợp chiết xuất Acetone/Nước (85:15 v/v). Lắc mạnh trên máy lắc cơ học với tần số 200 vòng/phút trong thời gian 30 phút. Lọc dịch chiết thu được qua giấy lọc nếp gấp. Hút chính xác 2.0 mL dịch lọc trong suốt, tiến hành pha loãng bằng 20.0 mL dung dịch đệm PBS pH 7.4 đã chuẩn bị ở Bước 1. Trộn đều.
-
Nạp mẫu qua cột IAC: Lắp cột miễn dịch IAC vào hệ thống hút chân không manifold. Cho toàn bộ dung dịch sau pha loãng chảy qua cột IAC với tốc độ nhỏ giọt được khống chế ở mức 1-2 giọt/giây (tương đương khoảng 1 mL/phút). Tuyệt đối không để cột bị khô hoàn toàn trong suốt quá trình nạp mẫu để bảo toàn hoạt tính của kháng thể đơn dòng gắn trên pha tĩnh.
-
Rửa cột và Rửa giải: Rửa sạch cột IAC bằng 10 mL nước siêu tinh khiết để loại bỏ hoàn toàn các thành phần tạp chất nền còn bám dính. Thổi khô cột bằng dòng khí nitơ nhẹ. Đặt một ống nghiệm thủy tinh Borosilicate Class A sạch bên dưới cột. Nạp vào cột 1.5 mL Methanol HPLC tinh khiết cao để thực hiện quá trình rửa giải giải hấp Aflatoxin B1. Tốc độ chảy của dung môi rửa giải phải được kiểm soát cực chậm (dưới 1 mL/phút) nhằm đảm bảo hòa tan tối đa lượng độc tố đang bám trên kháng thể.
-
Định mức dịch rửa giải: Thu gom toàn bộ dịch rửa giải, định mức bằng nước siêu tinh khiết đến thể tích chính xác 3.0 mL (tỉ lệ dung môi cuối cùng đạt Methanol/Nước 50:50 v/v) trước khi tiến hành tiêm vào hệ thống phân tích HPLC.
4.2 Cẩm nang khắc phục sự cố (Troubleshooting Guide) cho phòng thí nghiệm
|
Hiện tượng phát sinh |
Nguyên nhân gốc rễ kỹ thuật |
Giải pháp khắc phục nhanh |
|---|---|---|
|
Hiệu suất thu hồi (Recovery Rate) của mẫu kiểm soát chất lượng (QC) đạt dưới 70% |
1. pH của đệm PBS bị lệch khỏi khoảng tối ưu 7.4 ± 0.1 hoặc lực ion quá cao làm biến tính protein kháng thể đơn dòng trên cột IAC. 2. Tốc độ dòng chảy qua cột IAC quá nhanh (trên 2 mL/phút), khiến thời gian tiếp xúc giữa độc tố và kháng thể không đủ để xảy ra liên kết đặc hiệu. 3. Dụng cụ thủy tinh đựng dịch rửa giải hoặc dung dịch chuẩn làm việc là thủy tinh kiềm chất lượng thấp, gây hấp phụ vật lý bề mặt Aflatoxin B1. |
1. Đo lại pH của đệm PBS trước mỗi ngày chạy mẫu. Đảm bảo sử dụng máy đo pH được hiệu chuẩn thường xuyên. 2. Điều chỉnh van khóa của hệ thống hút chân không manifold để khống chế tốc độ dòng chảy luôn đạt dưới 2 giọt/giây. 3. Thay thế toàn bộ bằng các dụng cụ thủy tinh trung tính Borosilicate 3.3 Class A đạt chuẩn ISO 3585 từ thương hiệu Supertek. |
|
Tín hiệu peak Aflatoxin B1 rất thấp hoặc không xuất hiện trên sắc ký đồ |
1. Thuốc thử dẫn xuất hóa sau cột PBPB đã bị phân hủy do tác động của ánh sáng hoặc do thời gian chuẩn bị quá lâu. 2. Nhiệt độ của bộ phản ứng dẫn xuất sau cột không duy trì ổn định ở mức cài đặt kỹ thuật (thường là 40 °C). |
1. Pha mới dung dịch thuốc thử dẫn xuất PBPB. Luôn bọc kín bình chứa bằng giấy bạc hoặc sử dụng chai thủy tinh nâu sẫm màu để cản sáng. 2. Kiểm tra lại bộ phận gia nhiệt của hệ thống dẫn xuất sau cột, đảm bảo hệ thống đạt nhiệt độ cân bằng ổn định trước khi chạy mẫu ít nhất 30 phút. |
|
Áp suất hệ thống sắc ký tăng cao bất thường (> 350 bar khi chạy pha động tốc độ 1.0 mL/phút) |
1. Sự lắng đọng muối photphat từ đệm PBS trên cột phân tách do quy trình rửa cột không kỹ bằng nước tinh khiết trước khi chuyển sang pha động chứa hàm lượng dung môi hữu cơ cao. 2. Các hạt tạp chất kích thước lớn từ nền mẫu thức ăn chăn nuôi chưa được lọc sạch hoàn toàn trước khi tiêm vào cột. |
1. Xả cột sắc ký bằng dòng nước siêu tinh khiết ấm (khoảng 40 °C) ở tốc độ thấp 0.2 mL/phút trong 2 giờ để hòa tan muối lắng đọng, sau đó mới tiến hành chạy lại pha động hữu cơ. 2. Bắt buộc lọc dịch chiết cuối cùng qua màng lọc PTFE hoặc Nylon kích thước lỗ 0.22 µm trước khi đưa vào khay đựng mẫu của bộ tiêm tự động. |
5. Giải Pháp Toàn Diện Từ Labee: Tối Ưu Hóa Kỹ Thuật Và Ngân Sách Vận Hành Phòng Lab
"Việc kiểm soát chặt chẽ độ tinh khiết của dung môi sắc ký và duy trì pH đệm PBS ổn định ở mức 7.4 là yếu tố cốt lõi để bảo toàn hoạt tính kháng thể trên cột miễn dịch IAC, đảm bảo hiệu suất thu hồi tối ưu cho toàn bộ quy trình." > — Trích nhận định từ Kỹ sư QC chuyên trách ứng dụng sắc ký tại Labee.
Để đồng hành cùng các Trưởng phòng thí nghiệm và Kiểm nghiệm viên giải quyết triệt để các thách thức về độ chính xác kỹ thuật, tính ổn định của đường nền cũng như bài toán tối ưu hóa chi phí vận hành thường quy, Labee cung cấp hệ giải pháp vật tư và hóa chất đồng bộ chất lượng cao:
5.1 Giải pháp dung môi và hóa chất tinh khiết chuẩn sắc ký
Labee hiện là đại lý ủy quyền chính hãng của tập đoàn Avantor tại thị trường Việt Nam, cam kết cung ứng đầy đủ các dòng hóa chất tinh khiết phân tích đạt các chứng nhận COA và MSDS theo từng lô sản xuất:
-
Dòng sản phẩm cao cấp VWR (Avantor): Đạt đầy đủ tiêu chuẩn khắt khe của ACS, ISO, Ph.Eur. Dòng dung môi Methanol HPLC Grade và Acetonitrile HPLC Grade của VWR đảm bảo độ truyền quang UV tối đa, triệt tiêu tín hiệu ảo của tạp chất hữu cơ dạng vết ở nồng độ ppb, giúp bảo vệ đầu dò huỳnh quang hoạt động ổn định và kéo dài tuổi thọ cột sắc ký đáng kể.
-
Dòng sản phẩm tối ưu chi phí Rankem (Avantor): Đối với các bước phụ trợ không ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả đo sắc ký như giai đoạn chiết xuất ban đầu (yêu cầu lượng dung môi Acetone rất lớn) hoặc rửa vệ sinh hệ thống thiết bị định kỳ, Labee đề xuất giải pháp chuyển đổi sang sử dụng hóa chất thương hiệu Rankem. Sản phẩm đạt đầy đủ tiêu chuẩn phân tích (AR Grade) nhưng sở hữu mức giá cạnh tranh, giúp phòng thí nghiệm tối ưu hóa đáng kể ngân sách vận hành thường quy mà vẫn đảm bảo tính tuân thủ tiêu chuẩn chất lượng ISO 17025.
5.2 Giải pháp dụng cụ thủy tinh Borosilicate 3.3 chất lượng cao
Để loại bỏ triệt để hiện tượng tổn hao độc tố Aflatoxin B1 do hấp phụ bề mặt thủy tinh thông thường, Labee cung cấp dòng sản phẩm dụng cụ thủy tinh phòng thí nghiệm cao cấp từ thương hiệu Supertek:
-
Sản phẩm được chế tạo từ thủy tinh Borosilicate 3.3 tinh khiết, đạt chuẩn ISO 3585 và ASTM E-438 Type 1 Class A.
-
Hệ số giãn nở nhiệt cực thấp (32.5 × 10⁻⁷/°C) giúp dụng cụ thủy tinh Supertek duy trì độ chính xác thể tích tuyệt đối khi sấy khử trùng ở nhiệt độ cao.
-
Bình định mức Class A (mã dòng sản phẩm
11.xxxcó chứng nhận lô hoặc22.xxxcó chứng nhận hiệu chuẩn từng bình) là lựa chọn tối ưu cho việc pha chế dung dịch chuẩn làm việc của Aflatoxin B1, giảm thiểu tối đa sai số thể tích trong quá trình dựng đường chuẩn.
Hỗ trợ kỹ thuật JIT (Just-In-Time) từ Labee: Tất cả các sản phẩm hóa chất, dung môi sắc ký và dụng cụ thủy tinh do Labee cung cấp đều đi kèm đầy đủ chứng từ COA (Certificate of Analysis), MSDS (Material Safety Data Sheet) cho từng số lô sản xuất cụ thể. Đội ngũ kỹ sư ứng dụng của Labee luôn sẵn sàng hỗ trợ kỹ thuật tận nơi, tư vấn tối ưu hóa quy trình phân tích độc tố nấm mốc và giải quyết các sự cố sắc ký phát sinh trong thời gian ngắn nhất.
Xem Thêm: Giải pháp kiểm nghiệm toàn diện: Mô hình triển khai hệ thống Lab chuẩn hóa cho Dược, Thực phẩm & Môi trường
6. Câu Hỏi Thường Gặp Chuyên Sâu (Technical & Troubleshooting FAQ)
Q1: Tại sao phải giới hạn nghiêm ngặt tỷ lệ dung môi hữu cơ trong dung dịch cuối cùng nạp vào cột miễn dịch IAC ở mức dưới 10% v/v? Trả lời: Kháng thể đơn dòng được cố định trên giá thể của cột IAC cấu tạo từ các chuỗi protein liên kết bằng liên kết hydro và lực tương tác kỵ nước yếu. Nếu tỷ lệ dung môi hữu cơ (như Methanol hoặc Acetone) trong dung dịch nạp mẫu vượt quá 10% v/v, tính phân cực của môi trường dung dịch giảm mạnh sẽ phá vỡ cấu trúc không gian ba chiều của kháng thể đơn dòng. Hiện tượng này làm kháng thể bị duỗi mạch, mất khả năng nhận diện và bắt giữ đặc hiệu Aflatoxin B1. Khi đó, độc tố sẽ bị thất thoát ra ngoài theo dòng dung dịch thải trong quá trình nạp mẫu, dẫn đến hiện tượng sai lệch âm nghiêm trọng cho kết quả phân tích. Do đó, việc pha loãng dịch chiết thô bằng đệm PBS pH 7.4 tối thiểu 10 lần trước khi nạp qua cột IAC là yêu cầu kỹ thuật bắt buộc.
Q2: Sự khác biệt về mặt kỹ thuật giữa phương pháp dẫn xuất hóa sau cột bằng hóa chất PBPB và phương pháp dẫn xuất hóa bằng tế bào điện hóa (Kobra Cell) là gì? Trả lời: Dẫn xuất hóa bằng hóa chất PBPB sử dụng một bơm phụ để liên tục nạp dung dịch thuốc thử chứa brom tự do vào dòng sắc ký sau cột. Phương pháp này có ưu điểm là chi phí đầu tư ban đầu thấp, dễ lắp đặt và áp dụng trực tiếp theo đúng TCVN 9126:2011. Tuy nhiên, nhược điểm là độ ổn định phụ thuộc vào độ chính xác của bơm phụ và kiểm nghiệm viên cần chuẩn bị thuốc thử định kỳ. Ngược lại, phương pháp dùng tế bào điện hóa Kobra Cell tự động sinh ra brom hoạt tính từ muối Kali Bromua (KBr) có sẵn trong pha động thông qua quá trình điện phân tại điện cực dòng rò. Kobra Cell mang lại độ lặp lại diện tích peak cực kỳ cao và độ ổn định đường nền tốt hơn, nhưng yêu cầu chi phí đầu tư thiết bị ban đầu cao và pha động bắt buộc phải luôn chứa một lượng muối KBr (thường là 119 mg/L) cùng một lượng nhỏ acid để duy trì môi trường điện phân thích hợp.
Q3: Làm thế nào để phân biệt chính xác peak nhiễu của tạp chất nền (Matrix Interference) với peak thực của Aflatoxin B1 trên sắc ký đồ khi chạy mẫu thức ăn chăn nuôi phức tạp? Trả lời: Nền mẫu thức ăn chăn nuôi (đặc biệt là thức ăn hỗn hợp cho lợn hoặc gia cầm) chứa lượng lớn các hợp chất polyphenol thực vật tự nhiên có khả năng phát huỳnh quang ở bước sóng tương tự Aflatoxin B1. Để phân biệt chính xác, phòng thí nghiệm có thể áp dụng đồng thời ba kỹ thuật kiểm chứng sau:
-
Kiểm tra thời gian lưu (Retention Time): So sánh thời gian lưu của peak nghi ngờ với thời gian lưu của peak chuẩn Aflatoxin B1 chạy trong cùng một điều kiện sắc ký, độ lệch cho phép tối đa không quá ± 0.5%.
-
Kỹ thuật thêm chuẩn (Spiking Method): Thêm một lượng chính xác dung dịch chuẩn Aflatoxin B1 vào mẫu thử trước giai đoạn xử lý mẫu. Nếu diện tích của peak nghi ngờ tăng lên tương ứng mà không làm tách đôi hay xuất hiện vai peak (shoulder peak), đó chính là peak của Aflatoxin B1.
-
Thay đổi bước sóng quét (Dual-wavelength Check): Đo đồng thời ở hai cặp bước sóng kích thích/phát xạ khác nhau để so sánh tỉ số đáp ứng tín hiệu. Nếu tỉ số này không đổi so với chất chuẩn tinh khiết thì có thể khẳng định độ tinh khiết của peak.
Q4: Bình định mức thủy tinh Borosilicate 3.3 Class A của Supertek có cần phải được xử lý đặc biệt gì trước khi sử dụng để pha chế dung dịch chuẩn nồng độ vết không? Trả lời: Có. Mặc dù thủy tinh Borosilicate 3.3 của Supertek có độ trơ hóa học rất cao so với thủy tinh soda-lime thông thường, nhưng ở nồng độ cực loãng (dưới 10 µg/L hoặc cấp độ ppb), một lượng nhỏ phân tử Aflatoxin B1 vẫn có thể bị hấp phụ vật lý lên các nhóm silanol tự do (Si-OH) trên bề mặt thủy tinh. Để loại bỏ hoàn toàn sai số này, các bình định mức dùng để pha loãng chuẩn vết cần được xử lý bằng cách ngâm trong dung dịch acid nitric 10% v/v trong 12 giờ để loại bỏ các ion kim loại tạp chất, rửa sạch bằng nước siêu tinh khiết và sấy khô. Ở các phân tích yêu cầu độ nhạy tối cao (ultra-trace analysis), phòng thí nghiệm có thể thực hiện quy trình "silan hóa" bề mặt thủy tinh bằng cách tráng bình với dung dịch dichlorodimethylsilane 5% trong toluene để chuyển hóa hoàn toàn nhóm silanol thành nhóm methyl kỵ nước, ngăn chặn hoàn toàn hiện tượng hấp phụ độc tố lên thành bình.
7. Tài Liệu Tham Khảo (References)
-
TCVN 9126:2011 (ISO 17375:2006): Thức ăn chăn nuôi – Xác định aflatoxin B1 bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao pha đảo có dẫn xuất sau cột.
-
ISO 16050:2003 / EN ISO 16050:2011: Foodstuffs – Determination of aflatoxin B1, and the total content of aflatoxins B1, B2, G1 and G2 in cereals, nuts and derived products – High-performance chromatographic method with immunoaffinity column cleanup and post-column derivatization.
-
ISO 3585:1998: Borosilicate glass 3.3 – Properties (Tiêu chuẩn kỹ thuật vật liệu thủy tinh Borosilicate 3.3 dùng cho dụng cụ Supertek).
-
AOAC Official Method 991.31: Aflatoxins in Corn, Raw Peanuts, and Peanut Butter - Immunoaffinity Column Method with HPLC-FLD.




26/06/2026